Du hoc Nhat Ban
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế Nhật Bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế Nhật Bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Tình trạng thiếu hụt lao động tại Nhật Bản ngày càng trở lên trầm trọng

Mới đây Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản ngày 2/3 công bố số liệu cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của nước này trong tháng 1/2018 giảm xuống mức 2,4%, mức thấp nhất trong gần 25 năm qua, và số lượng việc làm còn trống duy trì ở mức cao trong 40 năm.



Tỷ lệ trên giảm so với mức 2,7% trong tháng trước đó và là tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất của Nhật Bản kể từ tháng 4/1993. 


Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản cho biết tỷ lệ đáp ứng việc làm trong tháng 1/2018 không thay đổi so với tháng trước đó, đứng ở mức 1,59 - mức cao nhất kể từ năm 1974. Điều này có nghĩa là cứ 100 người lao động thì có 159 việc làm. 


Tỷ lệ thất nghiệp trong nữ giới Nhật Bản tháng đầu năm giảm 0,5 điểm phần trăm so với tháng 12/2017 xuống 2,2% - mức thấp nhất kể từ tháng 10/1992. Tỷ lệ thất nghiệp ở nam giới giảm 0,3% xuống mức 2,5% - mức chưa từng thấy từ tháng 9/1993. Số lượng người không có việc làm (đã điều chỉnh) giảm 12,6% xuống 1,6 triệu người. 

Thị trường lao động Nhật Bản hiện eo hẹp khi các công ty đang phải cố gắng khắc phục tình trạng thiếu lao động trong bối cảnh nền kinh tế hồi phục vừa phải. Tuy nhiên, thị trường eo hẹp vẫn chưa thúc đẩy mức tăng lương xứng đáng hơn, một vấn đề đang làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách cố gắng đưa nền kinh tế Nhật Bản khỏi tình trạng giảm phát. 

Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) đặt mục tiêu lạm phát 2%, coi đây là điều kiện cốt yếu để thúc đẩy nền kinh tế. Các chuyên gia cho rằng đẩy mạnh nhu cầu trong nước là chìa khóa để thoát giảm phát, và điều này đòi hỏi phải có mức lương cao hơn cho người lao động và loại bỏ những lo ngại về chi tiêu cho phúc lợi xã hội ngày càng tăng trong xã hội đang già hóa nhanh chóng.

Theo: Báo tin tức

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015

Những con số thống kê đáng buồn về kinh tế Nhật Bản

Nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đang rơi vào tình trạng suy thoái, sau 2 quý tăng trưởng âm liên tiếp.
Sau đây là những con số thống kê đáng buồn của nền kinh tế Nhật Bản năm 2015.

Quý I/2015:

Tăng trưởng GDP của Nhật Bản đạt mức 2,4% so với cùng kỳ năm 2014 do xuất khẩu tăng. Đầu tư vào nhà ở cũng tăng lần đầu tiên trong vòng 1 năm qua do xu hướng phục hồi của nền kinh tế toàn cầu.


Tuy nhiên, dữ liệu cũng cho thấy chi tiêu tiêu dùng chiếm khoảng 60% GDP của Nhật Bản vẫn còn phục hồi chậm, chỉ tăng 0,4% so với quý trước đó.

Quý II/2015:

GDP của Nhật Bản giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2014. Nguyên nhân chủ yếu là tiền lương tăng chậm và hoạt động mua sắm giảm do thời tiết xấu.

Ngoài ra, xuất khẩu giảm 0,3% do nhu cầu hàng hóa Nhật Bản tại các thị trường Mỹ, Trung Quốc và các thị trường xuất khẩu khác suy yếu. Xu hướng này đã được nhận định tiếp tục trong Quý III/2015 và gây trở ngại cho tăng trưởng kinh tế Nhật Bản.

Quý III/2015:

Tăng trưởng GDP của Nhật Bản trong quý III/2015 suy giảm 0,2% so với quý trước đó và giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2014 và là mức giảm liên tiếp trong 2 quý. Điều này cho thấy, kinh tế Nhật Bản đã rơi vào suy thoái kỹ thuật lần thứ hai kể từ khi Thủ tướng Shinzo Abe lên nắm quyền vào cuối năm 2012, do tiêu dùng và đầu tư yếu trong bối cảnh các nền kinh tế mới nổi tăng trưởng chậm lại.

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

Nhật Bản duy trì chính sách bơm tiền mạnh mẽ

Kinh tế Nhật Bản: Từ thông báo mới nhất vừa được BoJ đưa ra ngày hôm nay (19/6), NHTW Nhật Bản sẽ tiếp tục mở rộng cơ sở tiền tệ với tốc độ 80.000 tỷ yên (tương đương 650 tỷ USD) mỗi năm.

NHTW Nhật Bản (BoJ) đã quyết định sẽ duy trì chương trình kích thích tiền tệ với quy mô lớn chưa từng có trong nỗ lực đẩy tăng lạm phát. BoJ cũng công bố các kế hoạch cải thiện tính minh bạch trong hoạt động.

Theo thông báo vừa được BoJ đưa ra hôm nay (19/6), NHTW Nhật Bản sẽ tiếp tục mở rộng cơ sở tiền tệ với tốc độ 80.000 tỷ yên (tương đương 650 tỷ USD) mỗi năm. Nhằm tăng tính minh bạch, kể từ năm 2016, BoJ sẽ công bố báo cáo cập nhật triển vọng kinh tế thường xuyên hơn. Số cuộc họp chính sách hàng năm sẽ được giảm xuống còn 8 cuộc, bằng với số cuộc họp của Cục dự trữ liên bang 

>> Xem thêm: Du học Nhật Bản

Xuất khẩu tăng trưởng chậm chạp là rủi ro mới nhất đe dọa đà hồi phục của nền kinh tế được giới phân tích dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại trong quý này. Mặc dù hôm đầu tuần Thống đốc Kuroda đã nhận định lạm phát vẫn theo hướng mục tiêu của BoJ và ông cũng hướng đến đồng yên yếu hơn, các chuyên gia kinh tế đã hi vọng ông sẽ đưa ra định hướng rõ ràng hơn trong buổi họp báo hôm nay.

“Đây chưa phải là thời điểm thích hợp để BoJ tăng cường kích thích kinh tế”, Masayuki Kichikawa – chuyên gia kinh tế đến từ Bank of America – nhận định. “Dữ liệu về chi tiêu tiêu dùng trái chiều và xuất khẩu không tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng nhìn chung thì BoJ vẫn có thể duy trì nhận định nền kinh tế đang dần phục hồi”.

BoJ dự báo tăng trưởng của kinh tế Nhật Bản sẽ giảm tốc xuống còn 1,4% trong quý này vì các công ty sẽ tăng cường đầu tư và đẩy tăng lượng hàng tồn kho. Theo thước đo của BoJ, trong tháng 4 lạm phát của Nhật Bản đã giảm xuống mức gần 0.

Đầu phiên giao dịch buổi chiều tại Tokyo, đồng yên giảm 0,1%, xuống còn 123,04 yên đổi 1 USD, sau khi chạm mốc thấp nhất 13 năm.

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

IMF: kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản “ốm yếu” đe dọa châu Á-Thái Bình Dương

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, các khoản nợ chất dồn, sự tăng giá của đồng bạc xanh và màn thể hiện “ốm yếu”, không được như mong đợi của Trung Quốc, Nhật Bản là những nguy cơ cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.


Các khoản nợ tăng, sự mạnh lên của đồng bạc xanh cùng sự thể hiện yếu hơn mong đợi của kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản có thể tăng rủi ro cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương, ngay cả khi đó vẫn là những quốc gia tăng trưởng nhanh nhất thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho biết.

Theo kết quả cuộc khảo sát kinh tế hàng năm IMF đưa ra hôm thứ Năm, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương có thể tăng trưởng 5,6% năm 2015 và 5,5% trong năm 2016. Giá cả hàng hóa thấp, thị trường lao động dồi dào và sự phục hồi của Mỹ và châu Âu sẽ là một tín hiệu tốt cho khu vực.

Tuy nhiên, IMF cũng cảnh báo rằng sự yếu đi của Trung Quốc và Nhật Bản có thể gây ảnh hưởng đến khu vực, trong khi sự mạnh lên của đồng bạc xanh có thể khiến nhiều quốc gia “ngợp” với các khoản nợ bằng đồng USD.

"Trong khi triển vọng khu vực châu Á và Thái Bình Dương vẫn còn vững chắc, cán cân rủi ro lại có xu hướng đi xuống", IMF cho biết.

Dự báo của IMF nói cách khác cũng không có nhiều tuơi sáng hơn so với một số nhà kinh tế khác - những người cho rằng tăng trưởng khu vực sẽ ở mức dưới 5% trong năm nay. Nhà kinh tế Rajiv Biswas của IHS Global Insight tin rằng châu Á sẽ tăng trưởng 4,8% trong năm 2015 do sự yếu đi của nền kinh tế Trung Quốc sẽ được bù lại bởi sự tăng mạnh sản xuất ở Nhật Bản và Ấn Độ.

“Giá dầu trung bình đã thấp hơn một cách đáng kể trong năm 2015 so với năm 2014 cũng là một yếu tố tích cực, bởi hầu hết các nền kinh tế Châu Á đều là những nhà nhập khẩu lớn về dầu và khí đốt”, ông Biswas cũng nói thêm.

Theo IMF, giá năng lượng thấp góp phần khiến thu nhập cá nhân thực tế cao hơn, đóng góp 1,7% vào tăng trưởng khu vực năm 2015.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ được cho là sẽ tăng lãi suất vào cuối năm nay trong bối cảnh phục hồi của nền kinh tế Mỹ.

Giá cả hàng hóa thấp, thị trường lao động dồi dào và sự phục hồi của Mỹ và châu Âu sẽ là một tín hiệu tốt cho khu vực

Quỹ Tiền tệ quốc tế dự báo tăng trưởng của khu vực có thể bị cắt giảm bởi những biến động đáng kể trong thị trường tài chính toàn cầu, hoặc các nước Châu Á không có khả năng thực hiện cải cách cơ cấu trong dài hạn. Trong số những cải cách này bao gồm việc khuyến khích lao động nữ tại Nhật Bản tham gia rộng rãi hơn vào nền kinh tế, cải cách sâu sắc hơn đối với các công ty nhà nước ở Trung quốc và giảm tắc nghẽn trong cơ sở hạ tầng ở Ấn Độ.

Đến nay, việc gia tăng các khoản nợ tại Châu Á mà dường như có thể kiểm soát được đã tạo điều kiện thuận lợi về tài chính và cùng với đó là tăng thu nhập trên thực tế. Tuy nhiên, thị trường bất động sản yếu ở nhiều quốc gia cùng các khoản nợ chất dồn là những vấn đề rất đáng quan ngại.

Các nhà kinh tế khác cho biết, họ không nhận thấy nợ của khu vực đang tăng cùng với mức độ phát triển. Chỉ từ năm 2007 đến 2014, tỷ lệ nợ của Trung Quốc đã tăng gấp đôi lên mức trên 200% tổng sản phẩm nội địa, và nợ công của Nhật Bản cũng ở mức 250% GDP.

“Tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể tiếp tục việc nợ nần như thế này. Nó cần phải được kìm chậm lại”, nhà kinh tế học Klaus Baader cho biết. "Nhưng nếu chúng ta đặt nó cạnh tốc độ tăng trưởng GDP thì tôi không nghĩ rằng điều đó là không bền vững”.

IMF cho biết, hầu hết các nền kinh tế trong khu vực Châu Á -  Thái Bình Dương, khu vực chiếm gần 2/3 tăng trưởng của toàn cầu trong năm ngoái, có khả năng giảm lãi suất và tăng chi tiêu của Chính phủ nếu việc kích thích tạm thời là cần thiết. Mặc dù vậy, Quỹ tiền tệ quốc tế cũng tin rằng phần lớn các chính sách lãi suất là phù hợp trong bối cảnh hiện nay.

Tuy nhiên, IMF cũng nhận định, đừng hy vọng khu vực này có thể sớm trở lại mức tăng trưởng như trước cuộc khủng hoảng năm 2009 bởi năng suất lao động cũng như độ tuổi trung bình của dân số Châu Á. “Tiềm năng tăng trưởng của khu vực đã chậm lại”.

Thanh Hương (Theo WSJ)

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Chỉ số Nikkei Nhật Bản tăng cao kỷ lục

VTV.vn - Chỉ số Nikkei tại thị trường chứng khoán Nhật Bản đã đạt mức 20.000 điểm lần đầu tiên, đánh dấu mức tăng cao kỷ lục trong vòng 15 năm qua.
Chỉ số này có thể phản ánh những nỗ lực phục hồi kinh tế Nhật Bản của Chính phủ.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp đồ ăn và đồ dùng gia đình đã nâng giá trị nhiều cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Tokyo kể từ đầu năm nay.

Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, chính sách nới lỏng tài chính và tăng thuế tiêu dùng của ông Abe là chìa khóa dẫn đến việc kéo nền kinh tế Nhật thoát khỏi tình trạng giảm phát sau một thời gian dài, tạo ra nhiều động lực phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước và thu hút đầu tư từ nước ngoài, kích thích tỉ giá cổ phiếu tăng.

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

Kinh tế Nhật Bản vẫn ì ạch

Quý trước, kinh tế Nhật Bản đã thoát khỏi suy thoái nhưng tốc độ hồi phục chậm chạp hơn so với con số ước tính sơ bộ.


Kinh tế Nhật Bản đã có sự hồi phục yếu hơn mong đợi trong bối cảnh các công ty bất ngờ cắt giảm đầu tư và giảm lượng hàng tồn kho, loại bỏ những tác động tích cực từ sự hồi phục trong chi tiêu tiêu dùng.

Theo báo cáo vừa được công bố hôm nay (9/3), GDP của Nhật Bản tăng trưởng 1,5% trong quý IV năm ngoái, thấp hơn con số ước tính sơ bộ 2,2% được đưa ra trước đây. 2 quý trước đó, kinh tế Nhật Bản suy giảm do đợt tăng thuế kinh doanh hồi tháng 4.

Đầu tư của khối doanh nghiệp giảm 0,1% so với quý trước. Quý thứ ba liên tiếp đầu tư sụt giảm cho thấy các công ty vẫn do dự chưa muốn tung lượng tiền mặt cao kỷ lục vào nền kinh tế. “Chúng ta cần đến một sự thay đổi lớn trong tư duy của các doanh nghiệp để thị trường nội địa có thể hồi phục mạnh hơn nữa”, Junko Nishioka – chuyên gia kinh tế đến từ Sumitomo Mitsui Banking Corp – nhận định.

Thống đốc NHTW Nhật Bản Haruhiko Kuroda đang tìm mọi cách để thúc đẩy tăng trưởng nhằm loại bỏ tình trạng trì trệ của nền kinh tế và tăng lạm phát. Mặc dù giá dầu giảm đem lại cho Nhật Bản nhiều lợi ích trong dài hạn, giá năng lượng rẻ hơn cũng sẽ khiến chỉ số giá tiêu dùng giảm mạnh trong những tháng tới, đe dọa mục tiêu lạm phát 2% mà chính phủ của ông Abe đã đề ra.

Trong những giờ giao dịch đầu buổi sáng, chỉ số Topix giảm 0,6% trong khi đồng yên tăng 0,1%, lên 120,68 yên đổi 1 USD.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Các ngành kinh tế của Nhật Bản

Kinh tế Nhật Bản: Do chỉ có 13,3% diện tích đất đai được dùng cho canh tác, nông nghiệp Nhật Bản có quy mô sản xuất nhỏ (trung bình một trang trại chỉ rộng 1,6 ha). Tuy vậy do kỹ thuật thâm canh tiên tiến nên năng suất cao, an toàn và hiệu quả. Hầu hết công việc đều làm bằng máy do trình độ cơ khí hoá cao. Công nghệ hiện đại đã làm xuất hiện các phương pháp canh tác mới như thuỷ canh, kỹ thuật gien…. Lao động làm nông lâm ngư nghiệp năm 2002 chỉ chiếm 4,7 % (mà số này cũng không làm nông nghiệp thuần tuý) nhưng luôn sản xuất đủ lương thực và quá nửa số rau, quả tiêu thụ ở Nhật. Các sản phẩm chính gồm: gạo, lúa mì, rau xanh (khoai tây, củ cải, cải bắp…), hoa quả (lê, táo, quýt, dưa..). Ngoài ra còn các sản phẩm chăn nuôi như thịt bò, gà, lợn, sữa, trứng….


Nông lâm ngư nghiệp:

Do chỉ có 13,3% diện tích đất đai được dùng cho canh tác, nông nghiệp NB có quy mô sản xuất nhỏ (trung bình một trang trại chỉ rộng 1,6 ha). Tuy vậy do kỹ thuật thâm canh tiên tiến nên năng suất cao, an toàn và hiệu quả. Hầu hết công việc đều làm bằng máy do trình độ cơ khí hoá cao. Công nghệ hiện đại đã làm xuất hiện các phương pháp canh tác mới như thuỷ canh, kỹ thuật gien…. Lao động làm nông lâm ngư nghiệp năm 2002 chỉ chiếm 4,7 % (mà số này cũng không làm nông nghiệp thuần tuý) nhưng luôn sản xuất đủ lương thực và quá nửa số rau, quả tiêu thụ ở Nhật. Các sản phẩm chính gồm: gạo, lúa mì, rau xanh (khoai tây, củ cải, cải bắp…), hoa quả (lê, táo, quýt, dưa..). Ngoài ra còn các sản phẩm chăn nuôi như thịt bò, gà, lợn, sữa, trứng….

Khoảng 67% diện tích đất còn lại của NB là rừng, non nửa là rừng trồng, nên lâm nghiệp cũng là một ngành kinh tế quan trọng từ nhiều thế kỷ nay. Tuy vậy do truyền thống người Nhật dùng nhiều gỗ (xây dựng nhà cửa, chùa chiền, làm đồ dùng trong nhà….) nên Nhật Bản phải nhập khẩu đến gần 80% lượng gỗ cần sử dụng.


Nhật Bản nằm giữa biển khơi và cá là thành phần quan trọng trong bữa ăn của người Nhật (mỗi người trung bình ăn 37,9kg cá/1năm) nên ngư nghiệp của Nhật Bản cũng phát triển nhất thế giới. Năm 1996 NB có 378.431 thuyền cá được đăng ký. Sản lượng đánh bắt hàng năm lúc cao nhất tới 12 triệu tấn, nay còn khoảng hơn 6 triệu tấn gồm: cá, tôm, cua, sò hến… ngoài ra còn khoảng 1,4 triệu tấn nữa được thu hoạch từ các trại nuôi thả đặc biệt với chừng 100 loài. Tuy vậy NB vẫn phải nhập khẩu trên 40% lượng cá tiêu thụ hàng năm. Phạm vi hoạt động của tầu cá NB những năm gần đây bị thu hẹp đáng kể do các nước thực hiện chủ quyền kinh tế trên biển. Việc Nhật đánh bắt nhiều cá voi, nói là để nghiên cứu khoa học, cũng bị các tổ chức bảo vệ môi trường và nhiều quốc gia phản đối.

Năng lượng:

Nhật Bản phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu hơn bất kỳ quốc gia công nghiệp nào khác. Thuỷ điện, hiện nay chiếm dưới 5% nguồn năng lượng ban đầu của NB, đã được khai thác triệt để vào những năm 1950, các nguồn than trong nước không cung cấp đủ năng lượng cho nền kinh tế “thần kỳ” của những năm 1960; Nhật Bản phải nhập khẩu 99,7% lượng dầu mỏ tiêu thụ trong nước; NB không có mỏ uranium và các nguồn năng lượng thay thế như địa nhiệt, năng lượng mặt trời… chỉ cung cấp được chưa đầy 2% nhu cầu tiêu thụ. Trên thực tế, NB chỉ tự cung cấp được khoảng 18% nguồn năng lượng.

Trong những điều kiện đó, Nhật Bản luôn được đánh giá là nền kinh tế sử dụng năng lượng đạt hiệu quả nhất: Nhật chỉ tiêu thụ 7% nguồn năng lượng toàn cầu nhưng lại sản xuất ra 15% của cải của toàn thế giới. Cơ cấu năng lượng của NB so với các nước

Công nghiệp chế tạo.

Phần lớn sức mạnh kinh tế của Nhật Bản nằm trong ngành cơ khí chế tạo. Xe hơi là một trong những sản phẩm nổi tiếng nhất. Mỗi năm NB sản xuất trên dưới 10 triệu chiếc xe hơi các loại, trong đó xuất khẩu khoảng một nửa. Ngoài số xe sản xuất trong nước, ôtô của các công ty Nhật còn được lắp ráp và chế tạo tại các nhà máy ở nước ngoài với mức độ nội địa hóa tuỳ thuộc vào trình độ công nghiệp và chính sách của nước sở tại.


Ngoài xe con NB cũng sản xuất và xuất khẩu nhiều xe tải, xe buýt, và các phương tiện vận tải khác. Đóng tầu cũng là ngành công nghiệp hàng đầu nhưng gần đây do sự phát triển của các nước khác, NB phải giành dật rất vất vả các hợp đồng đóng tầu mà vẫn không đủ việc làm.

Nhật Bản cũng rất nổi tiếng về về ngành điện tử và thiết bị điện. Các sản phẩm được ưa chuộng gồm: các thiết bị nghe nhìn như radio, catset, đầu video, LCD, DVD, máy ảnh, máy quay video… Nhật xuất khẩu nhiều thiết bị điện tử chính xác dùng trong ngành cơ khí chế tạo trên khắp thế giới, trong đó số người máy công nghiệp luôn chiếm phần lớn thị phần của thế giới. Nhật Bản còn sản xuất và xuất khẩu nhiều máy móc khác như máy văn phòng, máy tính… Thép, kim loại, các sản phẩm kim loại, hóa chất cũng là những sản phẩm mạnh của công nghiệp chế tạo NB.

Ngoại thương:

Cán cân ngoại thương của Nhật Bản những năm gần đây (đơn vị tỷ USD)

Năm: 1990 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Xuất khẩu 414,6 415,3 447,3 509,4 506,5 475,5 516,5 489,8
Nhập khẩu 338,6 315,5 379,9 409,6 366,5 352,7 409,4 424,2
Cân đối: 76,0 99,8 68,4 99,8 140,0 143,8 107,1 65,6

Đầu tư:

Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ra nước ngoài bắt đầu tăng từ giữa những năm 1960, chững lại trong những năm 1970 do khủng hoảng dầu mỏ, và tăng lại vào những năm 1980 để đạt mức cao nhất 67,5 tỷ USD vào năm 1989. Những năm gần đây đầu tư ra nước ngoài vào những ngành không chế tạo giảm nhiều trong khi đầu tư vào các ngành chế tạo tăng rất vững chắc.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Nhật Bản tăng mạnh trong những năm cuối của thập kỷ 1990, lên tới 28,2 tỷ USD vào năm 2000. Trong đó 70% là đầu tư vào các ngành tài chính, bảo hiểm và thông tin. Các nước có đầu tư trực tiếp vào Nhật Bản nhiều là: Mỹ, Hà Lan, Anh, Canada…

Giao thông vận tải:

Bởi vì Nhật Bản là một quần đảo nhiều núi và diện tích có thể ở được là hiếm và giá cao nên hệ thống giao thông luôn luôn là vấn đề mấu chốt cho các nhà hoạch định chính sách ở mọi cấp: quốc gia, vùng và địa phương. Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải hiện tại phản ánh nhu cầu về một hệ thống có thể vận

chuyển người, hàng hoá và truyền đạt thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả. Nhật bản dẫn đầu thế giới về sự phát triển của mạng lưới đường sắt cao tốc (shinkansen) và mạng lưới thông tin quốc gia bằng cáp quang. Tuy nhiên Nhật Bản bị tụt lại sau các nhà cạnh tranh châu Âu trong các lĩnh vực khác.

Tổng độ dài đường cao tốc ở Nhật Bản (km) theo các năm

1967 1970 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2001 2002
208 649 1.888 2.860 3.721 4.869 5.930 6.861 6.959 7.200

Tài chính, ngân hàng:

Sau khi nền kinh tế bong bóng xẹp xuống vào đầu những năm 1990, Chính phủ Nhật Bản liên tiếp đề ra các biện pháp tài chính quy mô lớn để kích thích nền kinh tế. Tuy vậy, sau đó kinh tế vẫn khó khăn làm cho nguồn thu ngân sách giảm đáng kể và Chính phủ lại buộc phải liên tiếp phát hành các loại công trái lạm phát tài chính.

Nội các Koizumi lên nắm quyền từ 4/2001,

đã đề xuất chính sách “Cải cách cơ cấu không trừ đất thánh” nhằm cải cách triệt để các hệ thống kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội và chính trị. Để giảm bớt các khoản nợ khổng lồ của Chính phủ (dự tính tới 666 tỷ Yên vào cuối năm tài chính 2001), khi soạn thảo ngân sách năm 2002, Nội các này đã đề nghị hạn chế mức phát hành công trái ở dưới 30 ngàn tỷ Yên, giảm 1,7% so với năm trước. Nhưng do kinh tế trì trệ quá dài, tháng 12/2002 Chính phủ lại phải thông qua một ngân sách bổ sung 4,2 ngàn tỷ Yên để kích thích kinh tế và quyết định phát hành thêm 4,97 ngàn tỷ Yên công trái, vượt xa giới hạn 30 ngàn tỷ Yên đề ra ban đầu. Trong ngân sách 81,79 ngàn tỷ Yên của năm tài chính 2003, Chính phủ lại quyết định phát hành 36,45 ngàn tỷ Yên công trái. Đây là mức kỷ lục và mức độ phụ thuộc vào công trái của ngân sách cũng tăng từ 36,9% lên 44,6%. Cuối năm tài chính 2003, dự tính các khoản nợ của Chính phủ trung ương và địa phương sẽ là 685 ngàn tỷ Yên.

Bưu chính, viễn thông:

Cho đến năm 1985, ngành bưu chính viễn thông của Nhật Bản vẫn là độc quyền của công ty nhà nước NTT (Nippon Telegraph and Telephone). Sau khi công ty này được dân doanh hoá và tổ chức lại thì thị trường thông tin và viễn thông của Nhật Bản mới mở cửa cho tư nhân và đầu tư nước ngoài. Những năm gần đây, các công ty đua nhau đưa ra nhiều dịch vụ mới cho điện thoại thường, điện thoại di động, internet với tốc độ cao…. Số người dùng tăng nhanh và giá cả cũng giảm xuống.

Đầu năm 2001, Chính phủ đưa ra chiến lược “e-Japan”, đặt mục tiêu trong 5 năm Nhật Bản sẽ có mạng lưới cáp quang kết nối tới 10 triệu hộ gia đình và internet tốc độ cao, truyền hình cáp… kết nối tới 30 triệu hộ. Đây sẽ là mạng thông tin hiện đại hàng đầu trên thế giới.

(2001)Thuê bao ĐT: 50.700.000

(2002) Thuê bao ĐT di động: 78.880.000
(2002) Người dùng internet: 57.000.000
(2003) Máy chủ internet: 9260

Du lịch, giải trí

Năm 2001, Nhật Bản có 16,2 triệu người đi du lịch nước ngoài, giảm 9% so với năm 2000 do vụ khủng bố 11/9 ở Mỹ. Ngược lại có 4,8 triệu người đến Nhật, trong đó 2,7 triệu là khách du lịch. Cùng năm 2001, người Nhật chi 6,8 ngàn tỷ Yên cho du lịch trong nước, giảm 8% so với năm 2000.

Dân Nhật đi du lịch nhiều vào 3 dịp trong năm: nghỉ đông vào khoảng tết dương lịch; tuần lễ vàng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 và dịp nghỉ hè vào khoảng tháng 7, tháng 8.

Trước đây môn thể thao được nhiều ngưới quan tâm nhất là bóng chày (base ball), nhưng từ năm 1992, với sự thành lập 10 câu lạc bộ chuyên nghiệp, bóng đá Nhật tiến bộ rất nhanh và sôi nổi với đỉnh điểm là World Cup năm 2002 mà Nhật Bản và Hàn Quốc được tổ chức chung.

Ở Nhật còn nhiều môn thể thao truyền thống như vật Sumo, võ Judo, hay kendo (đánh kiếm). Các môn thể thao khác như bóng chuyền, bóng rổ, tennis, trượt tuyết… cũng rất phổ biến.

Âm nhạc, phim ảnh, truyền hình là những phương tiện giải trí rất phát triển ở Nhật Bản và đây cũng là những ngành công nghiệp có thu nhập cao.

Theo: nhatban.net.vn

Nhật Bản - cường quốc đứng thứ 2 Thế Giới